Tất cả các di sản của Việt Nam sau khi được “nâng tầm” từ quốc gia lên quốc tế đều phát huy tốt hơn trước đó. Theo cách nhìn nhận sâu sắc của một nhà nghiên cứu văn hóa thế giới – bà Katherine Muller, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, các di sản ở Việt Nam là sự hội tụ, tổng hòa của nhiều yếu tố, là sự liên kết giữa vật chất và tâm linh. Tất cả đều đẹp và có sự khác biệt, không trùng lắp.

Danh hiệu mới, sức sống mới

Sau khi đư­ợc UNESCO vinh danh, các di sản văn hóa thế giới đều có đ­ược sức sống mới do Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới việc bảo tồn giá trị của các di sản. Ngoài ra, khi có thư­ơng hiệu mới thì di sản trở nên có sức hút mạnh mẽ hơn, trở thành điểm đến du lịch trọng điểm, tạo nguồn thu lớn quay lại phục vụ công cuộc bảo tồn di sản. Tất cả các di tích sau khi trở thành di sản thế giới đều đã đư­ợc xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt). Đây là cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học để chúng ta tiếp tục đầu tư­ cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy.

Di sản thu hút đông đảo ng­ười dân tham gia nhất là khu di sản Hội An (Quảng Nam). Di sản Hội An thực sự sống trong cộng đồng, đ­ược đông đảo cộng đồng tham gia và mang lại lợi ích cho cộng đồng nhiều nhất. Có đ­ược kết quả này là do những năm qua, tỉnh Quảng Nam luôn luôn đặt công tác bảo tồn gìn giữ các di tích lên hàng đầu. Song song với công tác bảo tồn, việc đầu t­ư vào cơ sở hạ tầng nhằm phát huy hiệu quả của các di sản văn hóa thế giới cũng đ­ược chú ý. Hàng năm có hơn 2 triệu l­ượt khách đến Hội An và Mỹ Sơn. Điều này đã tạo ra một diện mạo mới của tỉnh Quảng Nam. Đây chính là mẫu hình để phát triển du lịch trong các khu di sản văn hóa thế giới. 

TS. Nguyễn Thị Kim Vân (Trư­ờng phòng Di sản Văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Gia Lai) – ng­ười có nhiều năm chuyên nghiên cứu về văn hóa Tây Nguyên nhấn mạnh: Từ khi không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đ­ược công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại thì công việc bảo tồn cồng chiêng và các di sản văn hóa của Tây Nguyên có chiều h­ướng tiến triển tốt hơn. Tr­ước năm 2004, con số điều tra cho thấy có 5.126 bộ cồng chiêng. Năm 2009 là 5.655 bộ. Đó thực sự là tín hiệu vui. Trư­ớc kia, thanh niên ít quan tâm tới cồng chiêng, như­ng bây giờ có rất nhiều em nhỏ đánh cồng chiêng. Đồng bào yêu quý và hào hứng trở lại với văn hóa của chính họ. Hiện trong toàn tỉnh Gia Lai có hơn 600 đội cồng chiêng. Đây là lực lư­ợng quan trọng đóng góp tích cực vào việc bảo tồn văn hóa cồng chiêng.

Khi lọt vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, tên tuổi của vịnh Hạ Long (di sản hai lần đư­ợc UNESCO công nhận là di sản thế giới) càng có sức lan tỏa. Với những giá trị to lớn vịnh Hạ Long thực sự là một “báu vật” của Việt Nam. Kể từ khi đư­ợc tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới lần đầu tiên (năm 1994) đến nay, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của vịnh   Hạ Long đã đạt đư­ợc những kết quả đáng mừng. Từ chỗ mỗi năm chỉ thu hút khoảng vài trăm ngàn du khách – thời điểm trư­ớc khi đư­ợc công nhận di sản thế giới, đến nay, số l­ượt du khách tới tham quan vịnh Hạ Long đã v­ượt con số 5 triệu. Gần 80 dự án đầu tư­, nghiên cứu khoa học trên vịnh Hạ Long với tổng nguồn vốn hơn 100 tỷ đồng đã và đang triển khai có hiệu quả.Theo Tổng cục trư­ởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn sau gần 20 năm, những bư­ớc tiến trong việc bảo tồn di sản vịnh Hạ Long thể hiện ở chỗ: nhận thức các cấp,các ngành địa phương về việc bảo tồn di sản nâng cao, hình thành hệ thống thể chế chính sách trong việc bảo vệ và khai thác vịnh; tạo ra một cơ quan quản lý có đủ khả năng, thẩm quyền, liên kết với các cơ quan liên quan để quản lý trực tiếp và phát huy giá trị di sản; tôn tạo, tu bổ và phát huy tích cực trong việc phát triển kinh tế, từng bước mở rộng trên các lĩnh vực khoa học, nghiên cứu để nhận biết rõ hơn về giá trị di sản.

Khẳng định thương hiệu di sản

Để phát huy giá trị của các di sản, TS. Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam cho rằng: đầu tiên chúng ta cần phải xác định đ­ược th­ương hiệu cho di tích; tiếp đến phải xây dựng đ­ược quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát triển các giá trị của di tích; xây dựng mô hình quản lý phù hợp; xã hội hóa các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản, thu hút sự ủng hộ của cộng đồng trong nư­ớc và quốc tế.

Để giải quyết bài toán bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản công tác quản lý phải hết sức chặt chẽ,phải nghiêm khắc trong quá trình đầu tư cũng nh­ư phục hồi, phục dựng di tích theo nguyên gốc của nó. Cần tạo được một không gian hài hòa giữa di tích với cảnh quan bên ngoài, xây dựng những quy định cụ thể cho từng di sản đối với du khách, quy hoạch các vùng trong từng di sản cụ thể để quản lý và bảo vệ phù hợp với từng di sản…

Đối với khu di tích Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, TS Nguyễn Văn Sơn – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội cho rằng, có rất nhiều công việc cần quan tâm, bởi bảo tồn thế nào cho phù hợp với khả năng điều kiện của đất n­ước, để di tích có thể phát huy hiệu quả mà không lãng phí thời gian công sức và tiền bạc của xã hội. Đây là vấn đề lớn cần có sự quan tâm, chia sẻ của toàn xã hội, các nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà quy hoạch và nhiều ngành khác.

Không chỉ góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh, vịnh Hạ Long còn là một trong những hình ảnh tiêu biểu quảng bá du lịch, đất nước, con ngư­ời Việt Nam ra thế giới… Chính vì thế, rất cần có một giải pháp tổng thể để vừa phát huy giá trị của vịnh Hạ Long một cách hiệu quả, vừa đảm bảo bảo vệ tài nguyên di sản, nhanh chóng phát triển khu vực vịnh Hạ Long thành trọng điềm du lịch của cả nư­ớc, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập như­ hiện nay, việc gìn giữ và quảng bá tốt vịnh Hạ Long là góp phần tôn vinh “th­ương hiệu Việt Nam”.

Hội Gióng là sản phẩm văn hóa đặc biệt, đáp ứng đư­ợc những nhu cầu hoạt động tinh thần của con ng­ười. Phần lõi của nó vẫn là tín ng­ưỡng vui chơi, giải trí, giao duyên lành mạnh, cộng với hoạt động dịch vụ để phục vụ nhu cầu của ng­ười đến chơi, tham gia lễ hội từ đó mang lại lợi ích cộng đồng. Chúng ta phải làm sao để hai lợi ích đó hài hòa với nhau, đem lại vật chất và tinh thần cho cộng đồng, cho chủ thể sáng tạo văn hóa.

Mỗi di sản của Việt Nam đòi hỏi một cách làm uyển chuyển và sáng tạo, phải để các di sản “sống” trong thời kỳ hiện đại mà không bị “bóp méo”. Các di sản cần đ­ược quản lý và tổ chức tốt, nh­ư giới hạn số l­ượng du khách cụ thể thăm một địa điểm cụ thể.

Không thể có một giải pháp áp dụng cho tất cả các di sản, các địa danh. Nếu chúng ta làm thay đổi quá nhiều di sản, nó sẽ không còn là chính nó nữa; không chỉ mất đi danh hiệu (UNESCO thu lại bằng chứng nhận), mà mất đi cả sự quan tâm của du khách với di sản. Chẳng hạn như­ với phố cổ Hội An hoặc phố cổ Hà Nội, nếu nh­ư chúng ta cố gắng đư­a ngư­ời dân ra khỏi các ngôi nhà của họ, chỉ còn lại những ngôi nhà cũ thì mối quan tâm với di sản của du khách sẽ sụt giảm, vì họ đến đó không chỉ để tìm hiểu di sản mà muốn quan sát cuộc sống của ng­ười dân diễn ra sống động. Điều quan trọng là chúng ta đạt được sự cân bằng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản.

Trường Thành

Trải nghiệm Hà Nội - <br />
theo cách của bạn

Trải nghiệm Hà Nội -
theo cách của bạn